So sánh IFRS và VAS – Vì sao phải chuyển từ VAS sang IFRS?

//So sánh IFRS và VAS – Vì sao phải chuyển từ VAS sang IFRS?
ACCA-Exam-Tips (2)
Smart Train kí kết với ISCA
z5465366807755_2001b2621b81ff86cdeeaa2ca49eb46f
Hoc CMA linh hoat_WEB
z5480092163869_370ae57ae5cd4b4c0a38972df062d3fc
z5465464839747_1d31292400d741a7b9125909ce9f0507
z5479888672269_72fe099ef028671f2e34317caf4a383c
BCTC-
dịch vụ cho thuê phòng học hội thảo 1

So sánh IFRS và VAS – Vì sao phải chuyển từ VAS sang IFRS?

so sánh IFRS và VAS

IFRS và VAS là gì?

IFRS và VAS đều là chuẩn mực báo cáo tài chính, nhưng có sự khác biệt:

IFRS là chuẩn mực báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế. Nội dung được thiết kế và phát triển bởi một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận là Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB). Sự ra đời của IFRS cung cấp một khuôn khổ quốc tế về cách lập và trình bày BCTC cho các công ty đại chúng. Có thể nói đây là hướng dẫn, diễn giải chung nhất về cách lập BCTC, hơn là thiết lập các quy tắc lập báo cáo ngành cụ thể. Đến nay, IFRS đã trở thành ngôn ngữ kế toán chung phổ biến nhất trên toàn cầu.

Tìm hiểu thêm về IFRS tại đây

VAS (chuẩn mực Kế toán Việt Nam) cũng là một dạng chuẩn mực BCTC nhưng được sử dụng riêng ở Việt Nam được hệ thống và quy định bởi Bộ Tài chính. Tuy là chuẩn mực BCTC đặc thù nhưng các nội dung trong VAS được xây dựng phần lớn là dựa trên IAS/IFRS mà theo đó, một số quy định sẽ bị loại bỏ để phù hợp hơn với văn hóa của các doanh nghiệp Việt Nam. Đến thời điểm hiện tại, Bộ Tài chính đã ban hành và công bố 26 VAS với Đợt cuối cùng là vào ngày 28/12/2005. Sự ra đời của VAS là kết quả của nhu cầu nâng cao chất lượng thông tin kế toán cung cấp cho nền kinh tế quốc dân. 

Những khác biệt cơ bản giữa IFRS và VAS

Tuy bám sát theo những chuẩn mực IAS/IFRS nhưng chuẩn mực kế toán Việt Nam lại có những quy định hình thức áp dụng trong BCTC khắt khe hơn. Ngược lại, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tập trung vào tính bao quát trong các chuẩn mực kế toán và các tài liệu mang tính hướng dẫn liên quan để có thể áp dụng trong hầu hết các trường hợp. Do đó các danh mục báo cáo trong IFRS có nhiều chủ đề hơn VAS.

Ngoài ra, các nội dung của VAS bị giới hạn cũng một phần là do chuẩn mực này có thiên hướng sử dụng giá trị gốc trong khi IFRS sử dụng các giá trị hợp lý để có thể dễ dàng đưa ra những ước tính và xét đoán trong tương lai. Nguyên nhân sâu xa của việc này bắt nguồn từ tâm lý sợ rủi ro, thiếu chắc chắn của người Việt Nam trong giai đoạn đổi mới. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính – làm suy giảm tính trung thực, hợp lý của BCTC.

Các quốc gia mà cơ sở, nguyên tắc kế toán được quy chiếu vào chế độ kế toán quốc gia như Việt Nam thì Nhà nước sẽ là người trực tiếp thực hiện các quá trình kiểm soát kế toán cũng như ban hành và hướng dẫn các chuẩn mực kế toán trong các bộ luật hoặc văn bản pháp lý.

Trái lại, các quốc gia đi theo chuẩn mực IAS/IFRS thường không liệt kê các nguyên tắc kế toán vào chế độ kế toán quốc gia. Thay vào đó các tổ chức tư nhân chuyên nghiệp sẽ đảm nhiệm vai trò đưa ra các phương pháp thực hiện các BCTC, từ đó tạo ra sự linh động và sáng tạo trong việc áp dụng các chuẩn mực vào thực tiễn. Cũng từ đó, tính minh bạch thông tin từ các cổ đông tại các nước dùng VAS cũng thấp hơn, bảo vệ được những quyền lợi của họ.

So sánh các chuẩn mực tương đương trong VAS và IAS/IFRS

  • IAS 1 – VAS 21 (Trình bày báo cáo tài chính): Về hình thức, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế sẽ yêu cầu doanh nghiệp trình bày báo cáo thu nhập toàn diện thành hai phần là  Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (P/L) và Báo cáo thu nhập toàn diện khác (OCI) trong khi chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam chỉ yêu cầu lập một Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Do đó, một số khoản lãi/ lỗ từ các hoạt động không thường xuyên của doanh nghiệp như bán cổ phiếu khi được được liệt kê vào báo cáo hoạt động kinh doanh là không phù hợp với thông lệ quốc tế.
  • IAS 2 – VAS 2 (Hàng tồn kho): IAS 2 cho phép áp dụng nhiều phương pháp ước tính giá trị hàng tồn kho hiện đại như phương pháp chi định mức hay phương pháp giá bán lẻ. Tuy nhiên, phương pháp phổ biến trong VAS 2 là “Nhập sau – xuất trước” lại được cho là không hợp lệ và bị loại bỏ trong IAS 2 bởi chi phí và thu nhập sẽ chịu nhiều biến động khi thời giá thay đổi.
  • IAS 16 – VAS 3 (Tài sản cố định): Theo IAS 16, việc áp dụng giá trị tối thiểu cho các tài sản hữu hình như VAS 3 với 30 triệu đồng sẽ làm tăng số dư của Tài sản lớn hơn giá trị có thể thu hồi. Ngoài ra, do thuộc chế độ kế toán quốc gia nên theo VAS, các tài sản khó bị phân tách thành phần nhỏ và khấu hao một cách riêng biệt.
  • IFRS 4 – VAS 19 (Hợp đồng bảo hiểm): Theo VAS, các chính sách kế toán được sử dụng phổ biến cho hợp đồng bảo hiểm có một số điều khoản khác với IFRS 4, chẳng hạn như các yêu cầu để dự phòng tổn thất do thảm họa và dự phòng cho yêu cầu bồi thường trong tương lai, hoặc thiếu sót trong kiểm tra trách nhiệm pháp lý, suy giảm tài sản được bảo hiểm và thuyết minh giá trị thị trường. Tuy nhiên, đến tháng 5 năm 2017, sau khi chuẩn mực IFRS 17 ra đời và thay thế cho IFRS 4 thì VAS vẫn chưa sửa đổi và bổ sung bất cứ chuẩn mực tương đương nào.
  • IAS 12 – VAS 17 (Thuế thu nhập doanh nghiệp): khoản lỗ tính thuế có thể được chuyển sang các kỳ tính thuế trước đó. Các quy định chuyển lỗ tính thuế cho phép doanh nghiệp lựa chọn bù trừ toàn bộ hoặc một phần lỗ tính thuế đối với nghĩa vụ thuế của năm hiện hành hoặc các năm trước. Nhìn chung, các doanh nghiệp có thể chuyển các khoản lỗ tính thuế sang các năm trước thay vì cấn trừ cho các năm tiếp theo.
  • IFRS 15 – VAS 14 (Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng): Đối với VAS 14, doanh thu chỉ được định nghĩa dựa theo những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp có thể nhận được. Do đó, các nguyên tắc và mô hình ghi nhận của VAS 14 còn hạn hẹp và thiếu sót.

Các chuẩn mực còn lại phần lớn đều không có sự khác biệt rõ ràng giữa IAS/IFRS và VAS. Bên cạnh đó, các chuẩn mực IFRS 2, 5, 6, 12, IAS 36, 41 đến thời điểm hiện tại vẫn chưa được bổ sung bất cứ chuẩn mực tương đương nào liên quan.

IAS/IFRS VAS tương đương
IAS 1 VAS 21
IAS 7 VAS 24
IAS 8 VAS 29
IAS 10 VAS 23
IAS 20 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IAS 29 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IAS 32 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IAS 24 VAS 26
IAS 33 VAS 30
IAS 34 VAS 27
IFRS 1 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 7 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 8 VAS 28
IFRS 17 VAS 19
IAS 2 VAS 2
IAS 12 VAS 17
IAS 16 VAS 3
IAS 19 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IAS 23 VAS 16
IAS 36 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IAS 37 VAS 18
IAS 38 VAS 4
IAS 40 VAS 5
IAS 41 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 2 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 5 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 6 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 9 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 13 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IFRS 15 VAS 14
IFRS 16 VAS 6
IAS 21 VAS 10
IAS 27 Không có chuẩn mực VAS tương đương
IAS 28 VAS 7, VAS 8
IFRS 3 VAS 11
IFRS 10 VAS 25
IFRS 11 VAS 8
IFRS 12 Không có chuẩn mực VAS tương đương

(Nguồn: Crowe VietNam)

Tại sao phải chuyển từ VAS sang IFRS

Theo thống kê từ IFRS, đến tháng 4/2018, đã có 166 đang sử dụng chuẩn mực IFRS và 87% trong số đó là bắt buộc, chỉ còn 7 quốc gia vẫn áp dụng chuẩn mực kế toán riêng, trong đó có Việt Nam. Có thể thấy, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đang là ngôn ngữ chung cho giới kế toán trên toàn cầu. 

Khác với giai đoạn trước, Việt Nam hiện nay sáp nhập một bộ phận lớn nguồn vốn nước ngoài. Do đó, việc bổ sung và gia nhập các cộng đồng quốc tế là vô cùng cần thiết, giúp tăng tính minh bạch và hạn chế những sai sót trong số liệu. Đã qua hơn nhiều thập kỷ mà VAS vẫn chưa được cập nhật nên việc chuyển đổi sang IFRS là vô cùng cần thiết.

Theo đó, vào ngày 16/03/2020, Bộ tài chính đã quyết định phê duyệt đề xuất “Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế vào Việt Nam” được tiến hành theo 3 giai đoạn là Chuẩn bị, Tự nguyện và Bắt buộc. 

Tuy vậy, một số công ty có vốn nước ngoài đã tự chủ động tổ chức huấn luyện cho nhân viên áp dụng IFRS để phù hợp hơn với văn hóa doanh nghiệp thông qua các tổ chức giảng dạy uy tín.

Tổ chức giảng dạy IFRS cùng Smart Train

Tuy IFRS đang dần phổ biến, vẫn có rất ít trung tâm đạt chuẩn với chương trình đào tạo bài bản dành cho IFRS. Vinh dự được Hiệp hội kế toán công chứng Anh quốc (ACCA) và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) chỉ định là đơn vị đào tạo Chứng chỉ Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế, Smart Train mang đến cho bạn chương trình học bài bản, chất lượng với chi phí tối ưu nhất.

Với 3 khóa học bao hàm từ cơ bản đến nâng cao về IFRS, kết hợp hướng dẫn chuyển đổi VAS sang IFRS cùng lịch khai giảng thường xuyên, linh hoạt, bạn sẽ được tiếp cận với kiến thức mang tính ứng dụng thực tiễn cao từ những giảng viên có chuyên môn sâu, am hiểu về IFRS. Ba khóa học của Smart Train gồm:

Đồng hành xuyên suốt cùng lộ trình học của học viên, Smart Train phối hợp cùng ACCA thường xuyên chiêu sinh khóa học nắm vững IFRS từ cơ bản đến nâng cao với các chứng chỉ CertIFR và DipIFR, đào tạo trọn gói 3 cấp độ với học phí ưu đãi.

Tổng kết

Do khoảng cách khác biệt là hơn 10 năm nên sự khác nhau giữa IFRS và VAS là điều khó tránh khỏi. Cũng vì lý do đó, việc tập trung vào đầu tư kiến thức IFRS là vô cùng quan trọng để giúp bản thân có một phong thái làm việc chuyên nghiệp và dễ dàng tiếp cận được ngôn ngữ của thế giới hiện đại.

    Tags:
2024-04-09T15:38:19+07:00